Làng dệt Bảy Hiền: Công nghệ dệt 1.0 hiếm hoi giữa Sài Gòn
Khám phá làng dệt Bảy Hiền – nơi công nghệ dệt vải 1.0 hiếm hoi còn sót lại giữa Sài Gòn. Tìm hiểu lịch sử và thực trạng nghề dệt truyền thống.
Nhắc đến khu Bảy Hiền (quận Tân Bình, TP HCM) không nhiều người biết rằng nơi đây từng là vùng đất sản xuất những thước vải trứ danh nổi tiếng khắp cả nước. Giờ đây, cái tên làng dệt Bảy Hiền hình như chỉ còn trong ký ức của một số người và là niềm tiếc nuối của biết bao hộ dân phải bỏ nghề tổ tiên vì thời thế thay đổi.
Thời hoàng kim của làng dệt Bảy Hiền
Nếu trước đây chỉ cần đi qua các phường 11, 12 quận Tân Bình là dễ dàng nghe tiếng “ầm ầm”, “xình xịch” của con thoi va đập vào khung gỗ cùng tiếng “lách tách” của máy se chỉ, tạo nên không khí khẩn trương, nhộn nhịp cho làng dệt. Thì bây giờ, âm thanh ấy đã trở nên hiếm hoi.
Theo bà Nguyễn Thị Lài (76 tuổi, ngụ đường Tái Thiết, quận Tân Bình), làng dệt Bảy Hiền xuất phát từ người Điện Bàn (Quảng Nam) di cư vào Sài Gòn những năm sau giải phóng. Họ tập trung lại để khôi phục nghề dệt vải khung gỗ, từ đó hình thành nên làng dệt Bảy Hiền nổi tiếng một thời.
Nghề dệt vải đã từng giúp nhiều hộ dân khu Bảy Hiền kiếm thu nhập và khấm khá hơn.
Thời hoàng kim của làng dệt Bảy Hiền rơi vào những năm 80 – 90 thế kỷ trước. Riêng phường 11 (quận Tân Bình) có tới 1.700 hộ theo nghề, cung cấp lụa trắng hàng đầu cả nước. “Khi đó máy chạy liên tục mà cũng không đủ đơn đặt hàng. Nói tới vải là người ta nghĩ ngay đến Bảy Hiền. Nhiều hộ làm ăn khá giả, phất lên nhanh lắm”, bà Lài kể lại.
Đến đầu năm 2000, dệt vải khung gỗ trở nên lỗi thời. Sản phẩm thiếu mẫu mã, họa tiết nên khó cạnh tranh với vải giá rẻ từ Trung Quốc, Đài Loan. Đơn hàng giảm dần, giá cả tụt dốc, trong khi máy móc vẫn cần bảo dưỡng. Nhiều gia đình đành ngậm ngùi bỏ nghề, bán máy móc, làng dệt đứng trước nguy cơ tan rã.
Bà Lài chia sẻ: “Gia đình tôi bỏ nghề dệt cũng gần 25 năm nay, máy móc bán hết. Nhà tôi có tới 4 đời theo nghề dệt nhưng rồi cũng không trụ nổi”.
Những chiếc máy dệt luôn cần có người để quan sát, khi máy bị rối chỉ sẽ kịp thời xử lý, không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Ông Võ Văn Trung (54 tuổi, ngụ đường Võ Thành Trang) cũng là một trong những người phải tiếc nuối bỏ nghề cha ông. Ông kể: “Cả gia đình tôi sống nhờ nghề này, từ đời ông nội đến ba tôi. Đến tôi làm được gần hai chục năm, sau này vải làm ra bán buôn ế ẩm, lỗ nhiều hơn lời nên phải bỏ ngang. Giờ chuyển sang bán quán ăn, muốn giữ lại nghề dệt nhưng nhà không còn vốn”.
Có thể nói, dệt vải khung gỗ của làng dệt Bảy Hiền là “công nghệ 1.0” bởi máy dệt được đóng bằng thanh gỗ và “lập trình dệt” thủ công. Phải có người trông coi để gỡ chỉ rối kịp thời và châm nước cho máy.
Tiếng khung dệt đập vào nhau “xình xịch”, những con thoi chạy thoăn thoắt, bên kia máy là phần vải đang dần hoàn thành, tạo nên không gian sản xuất hoài cổ, bình yên.
Nhiều hộ gia đình chấp nhận đầu tư vào máy kim, máy điện.
Vì không nỡ bỏ nghề dệt nên nhiều gia đình đã đầu tư từ vài chục đến vài trăm triệu đồng để chuyển sang máy nước, máy kim với hy vọng làng dệt Bảy Hiền hồi sinh.
Tuy nhiên, sản xuất ồ ạt khiến vải tồn kho nhiều, tiền gia công giảm chỉ còn chưa đầy 800 đồng/mét. Tiền bán vải không đủ bù đắp chi phí máy móc và thợ làm, nhiều cơ sở phải cho công nhân nghỉ, chủ yếu người trong gia đình làm nhưng tình hình vẫn không khá hơn.
Những thước vải nhọc nhằn của làng dệt Bảy Hiền
Chị Cúc (48 tuổi, ngụ đường Nguyễn Bá Tòng) là một trong số ít hộ còn giữ nguyên vẹn công nghệ và nghề dệt truyền thống. Chị chia sẻ: “Thua lỗ kéo dài, cả làng dệt nổi tiếng một thời chỉ còn vài nhà theo nghề. Vì là nghề tổ tiên nên không nỡ bỏ, giờ cũng chỉ làm cầm chừng”.
Nghe tiếng máy dệt xình xịch vọng ra đều đặn từ bên trong, phía ngoài cửa vẫn đóng im lìm, biết ngay đó là gia đình còn theo nghề. Thỉnh thoảng người ta mở cửa để khách lấy hàng, vải được chở đi bằng xe bán tải nhỏ hoặc xe máy nếu số lượng ít.
Những con thoi gắn liền với ký ức của người dân Bảy Hiền.
“Mình phải đóng cửa vì tiếng máy ồn lắm, giờ làm gì có khách tới tận nơi mua như hồi xưa. Chủ yếu mấy mối quen lâu lâu đến lấy hàng thôi”, chị Cúc cho biết.
Anh Trương Mậu Đông (43 tuổi, ở đường Nguyễn Bá Tòng) là người duy nhất thế hệ thứ hai ở làng dệt Bảy Hiền còn theo nghề. “Mấy anh chị em trong nhà kiếm việc khác rồi vì làm cực mà bán ra không có lời, có khi còn lỗ nặng”, anh Đông kể.
Gia đình anh Đông chỉ làm cầm chừng và muốn giữ nguyên cách dệt truyền thống để tạo ra những thước vải chất lượng nhất. “Nghề này là cha truyền con nối. Nhà tôi chỉ sản xuất vải phi bóng, máy móc mới không dệt ra được chất vải như này. Dệt thủ công nên vải thành phẩm không bị nhiễm hóa chất, bóng sáng và mượt hơn, nhưng người mua mấy ai để ý”, anh chia sẻ.
Vẫn còn vài hộ gia đình ở Bảy Hiền giữ lại nghề dệt truyền thống nhưng chỉ để “cầm hơi”, từng thước vải ra đời luôn chật vật tìm chỗ đứng trên thị trường.
Máy dệt khung gỗ chạy nặng và chậm, cần người trông coi để xử lý rối chỉ kịp thời. Một máy chạy từ sáng đến chiều chỉ được khoảng 35m vải. Mỗi mét vải phi bóng từ gia đình anh Đông có giá gần 1.500 đồng. Nếu chạy hết 4 máy thì thu về gần 200.000 đồng/ngày, nhưng đơn hàng ít nên thường chỉ dùng phân nửa số máy.
Chất lượng vải tốt nhưng đôi khi phải chấp nhận làm vải lót, vải đệm. “Phải làm thôi, vải lót cũng được, có đơn hàng là mừng rồi”, từng là loại vải được săn đón đến mức cháy hàng, nay khiêm tốn ở vai trò vải lót.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất thế của làng nghề truyền thống trước thời đại công nghệ 4.0 và làng dệt Bảy Hiền cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tiếng máy dệt xình xịch đã bị lấn át bởi tiếng xe cộ hối hả, những thước vải danh tiếng ngày nào phải chịu làm hàng lót, chật vật kiếm chỗ đứng trên thị trường.
Có lẽ tiếng máy dệt hôm nay ở Bảy Hiền chỉ còn là tiếng lòng của người thợ dệt và là ký ức đẹp của người xứ Quảng tại Sài Gòn.



Không có Bình luận. Hãy là người đầu tiên