Du khách không thể bỏ qua những làng nghề truyền thống Hà Nội, nơi lưu giữ những nét đẹp văn hóa đặc sắc.
Làng lụa Vạn Phúc
Làng lụa Vạn Phúc, hay còn được biết đến với tên gọi Làng lụa Hà Đông, nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km. Từ lâu, nơi đây đã nổi tiếng với nghề dệt lụa tơ tằm tinh xảo, được biết đến trên thị trường quốc tế từ những năm 1930. Lụa Vạn Phúc không chỉ được đánh giá cao về chất lượng mà còn chứa đựng giá trị văn hóa truyền thống sâu sắc, trở thành một trong những làng nghề truyền thống Hà Nội niềm tự hào của người dân thủ đô.
Cổng làng lụa Vạn Phúc. Ảnh: Báo Tuổi Trẻ Thủ Đô
Lụa Vạn Phúc mang đậm dấu ấn của thời gian, với những hoa văn được dệt đối xứng, sắc nét nhưng không quá phức tạp. Các mẫu lụa ở đây luôn mang lại cảm giác phóng thoáng, tự nhiên, phù hợp với mọi lứa tuổi và thời trang hiện đại. Điểm đặc biệt của làng nghề này là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật dệt thủ công và hiện đại, giữa nét đẹp truyền thống và tinh hoa sáng tạo mới mẻ.
Làng lụa Vạn Phúc còn có tên gọi khác là Làng lụa Hà Đông
Lụa Vạn Phúc – “Long gấm tiến vua”
Du khách đến thăm làng lụa Vạn Phúc không chỉ được chiêm ngưỡng các sản phẩm lụa tuyệt đẹp mà còn có cơ hội tham quan các gian hàng tại Chợ lụa Vạn Phúc. Mỗi gian hàng là một bức tranh rực rỡ sắc màu, nơi du khách có thể tìm mua các sản phẩm từ khăn, áo dài, trang phục truyền thống đến những món đồ trang trí làm từ lụa.
Chợ lụa Vạn Phúc. Ảnh: Báo điện tử VOV
Làng đúc đồng Ngũ Xã
Làng nghề đúc đồng Ngũ Xã nằm bên bờ hồ Trúc Bạch. Đây là một trong những làng nghề cổ kính và nổi tiếng nhất của Kinh thành Thăng Long xưa. Nghề đúc đồng tại Ngũ Xã đã có từ thế kỷ 17. Nơi đây nổi danh với kỹ thuật đúc tinh xảo và công phu. Các nghệ nhân Ngũ Xã đã tạo ra nhiều tác phẩm đồng nổi tiếng. Trong số đó có tượng Huyền Thiên Trấn Vũ và tượng Phật Di Đà. Những tác phẩm này được coi là kiệt tác nghệ thuật của làng nghề truyền thống Hà Nội.
Làng đúc đồng Ngũ Xã có từ thế kỉ 17
Thời kỳ đỉnh cao, làng Ngũ Xã là trung tâm đúc đồng lớn nhất kinh thành. Đây cũng là nơi lưu giữ tinh hoa của nghề đúc. Các sản phẩm nổi tiếng của làng bao gồm trống đồng, đồ thờ và chuông đồng. Những tác phẩm này thể hiện sự khéo léo và tài hoa của người thợ. Chúng cũng gắn liền với đời sống tâm linh và văn hóa Việt.
Lịch sử, làng Ngũ Xã chuyên đúc tiền và đồ thờ cho triều đình. (Ảnh: Bảo Thoa)
Hiện nay, nghề đúc đồng tại Ngũ Xã không còn phổ biến như trước. Tuy nhiên, những tác phẩm nghệ thuật của làng vẫn được lưu giữ tại nhiều đền chùa. Chúng đã trở thành di sản văn hóa quan trọng. Đối với du khách yêu thích lịch sử và nghệ thuật, làng Ngũ Xã là một điểm đến không thể bỏ qua khi khám phá Hà Nội.
Làng mây tre đan Phú Vinh
Làng nghề mây tre đan Phú Vinh nằm ở xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Đây là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời nhất Việt Nam. Làng Phú Vinh có lịch sử hơn 300 năm. Nơi đây nổi tiếng với các sản phẩm mây tre đan tinh xảo. Sản phẩm bao gồm đồ dùng gia đình như lẵng hoa, làn xách tay và bàn ghế. Ngoài ra, làng còn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật trang trí.
Các sản phẩm từ mây tre đan của làng nghề Phú Vinh hoàn toàn từ thủ công
Nghề đan mây tre ở Phú Vinh là biểu tượng của sự sáng tạo. Nó cũng thể hiện tài hoa của người dân địa phương. Mỗi sản phẩm đều thể hiện sự tỉ mỉ và khéo léo của các nghệ nhân, đòi hỏi kỹ thuật cao và sự tinh tế trong từng chi tiết.

Thăm làng Phú Vinh, du khách sẽ chiêm ngưỡng hàng trăm sản phẩm khác nhau. Du khách cũng có thể khám phá quy trình sản xuất truyền thống và tìm hiểu thêm về văn hóa, lịch sử của làng nghề. Đây là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn tìm không gian yên bình.
Làng sơn mài Hạ Thái
Nằm tại xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội, làng sơn mài Hạ Thái có từ thế kỷ 17 cũng là một trong các làng nghề truyền thống Hà Nội. Đây là một trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng của đất nước. Ban đầu, nghề sơn mài ở đây chỉ tập trung vào sơn đồ nét. Nhờ sự tài hoa của các nghệ nhân, làng đã phát triển thành nghề sơn mài cao cấp. Các sản phẩm phục vụ nhu cầu trang trí và dâng vua chúa.
Sản phẩm sơn mài Hạ Thái đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Ảnh: Quốc phòng Thủ đô
Người dân không chỉ làm các sản phẩm cho hoàng tộc mà còn tạo ra tác phẩm nghệ thuật. Quá trình làm tranh sơn mài Hạ Thái có nhiều công đoạn phức tạp. Các nghệ nhân trau chuốt từng chi tiết nhỏ. Họ sử dụng kỹ thuật pha màu độc đáo để tạo ra các lớp màu ấn tượng. Chủ đề tranh thường là hoa văn trang trí, tạo hình đá ngẫu nhiên. Các tác phẩm mang đậm chất Á Đông, thể hiện nét văn hóa Việt cổ. Chính sự tỉ mỉ đã làm nên vẻ đẹp bền vững của sản phẩm Hạ Thái. Những sản phẩm này thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.
Theo CHUYENDI.VN
***
Tham khảo: Cẩm nang du lịch CHUYENDI.VN









Nhà hát Hồ Gươm tự hào cho thấy sự công nhận của các chuyên gia du lịch thế giới đã góp phần củng cố vị thế của nhà hát Hồ Gươm và tôn vinh những đóng góp của Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng. Nhà hát Hồ Gươm – nằm tại giao điểm 4 con phố lớn trung tâm Hà Nội, được khánh thành vào tháng 7/2023, nằm tại phố Hàng Bài thuộc quận Hoàn Kiếm.
Được biết, nhà hát Hồ Gươm là nhà hát đầu tiên ở Việt Nam được cung cấp các loại máy móc thiết bị rạp hát đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hệ thống ánh sáng tại đây cũng đáp ứng mọi yêu cầu về mặt biểu diễn cho nhiều loại hình nghệ thuật: từ giao hưởng phương Tây với sân khấu truyền thống Việt Nam, ballet tới nhạc kịch…
Một trong những điểm nhấn của công trình là kiến trúc châu Âu cổ kính có 52 cột đá với mỗi cột cao 18m, được nhập khẩu từ Tây Ban Nha. Ngoài ra, nhiều chi tiết bên trong được khắc họa tinh xảo như trần nhà với họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn chim hạc, nhạc cụ dân tộc với hình ảnh rùa vàng trao kiếm…
Công trinh nằm trên khu đất rộng hơn 5.000m2, được chia thành 6 khu vực gồm sảnh lớn và sảnh nhỏ phía trước phục vụ tiếp đón khách. Khán phòng lớn có sức chứa 900 khách và khán phòng nhỏ sức chứa 500 khách; khu vực hậu trường có sảnh diễn viên, sân khấu phụ, phòng tập, kho đạo cụ, khu văn phòng; hầm để xe cho khách và nhân viên; không gian đa năng với phòng nghỉ giải lao và sân vườn nằm ở tầng 6.
Với kết quả này, công trình của Việt Nam hoàn toàn tự hào sáng ngang với nhiều công trình mang tầm cỡ quốc tế mang tính biểu tượng thế giới như nhà hát Sydney Opera House ở Sydney (Australia) hay Wiener Staatsoper tại Vienna (Áo).


Mỗi ngày, quán phục vụ gần 50 món khác nhau. Trong đó, các món chính không thể thiếu là cá diếc kho, cá quả kho chuối, chả xương sông, chả mực, thịt quay giòn bì, sườn xào chua ngọt, kho quẹt tôm thịt… kèm theo mắm tép, cà pháo, dưa cải muối chua.
Bếp của quán nằm sâu phía trong, khi tới ăn, thực khách khách đi vào trong gọi món. Từng món được đặt ra bát đĩa riêng, sau đó có nhân viên bê cơm ra tận bàn. Tùy vào món ăn có giá khác nhau như cá thu rim tiêu 150.000 đồng/khúc, cá trắm kho riềng 80.000-100.000 đồng/khúc, bê xào sả ớt 120.000 đồng/đĩa, canh riêu cua 100.000 đồng/bát…
Một trong những món ăn nổi tiếng của quán cơm Vinh Thu là cá diếc kho tương. Cá diếc kho không phổ biến vì loại cá này vốn sơ chế mất thời gian, nếu không khéo léo sẽ bị tanh. Ngoài ra, cá diếc vốn nhiều xương, thịt dễ nát. Đây là món ăn được mẹ chị tâm huyết thực hiện, xuất phát từ mong mỏi được thưởng thức lại món cá diếc kho tương từng ăn vào thời chiến tranh của bố chị. Nguyên liệu đơn giản gồm cá diếc, thịt ba chỉ, muối và tương. Thế nhưng cá phải là cá tát ao, tương phải là tương bần đặt riêng. Để nồi cá ngon, người nấu phải thành thục từ cách xếp cá, cho muối, đổ tương, canh thời gian kho… Một nồi cá diếc được kho trong 14-15 tiếng.
Khu vực bàn ăn của quán cơm Vinh Thu nằm ngoài trời nên không gian nhỏ, hơi nóng bức. Nhưng quán cũng rất đông vào giờ cao điểm nên thực khách thường phải chờ đợi. Quán mở cửa vào giờ cơm trưa và bữa tối. Ở đây, trung bình suất cơm cho mỗi thực khách từ 120.000 – 200.000 đồng, cao gấp 3 tới 5 lần các quán cơm bụi tại Hà Nội. Dẫu vậy, giờ trưa, khách vẫn ra vào quán nườm nượp. Từ 11h45 – 13h, nhiều ngày quán đông kín chỗ, khách phải đứng chờ xếp bàn.












